Cong bang suc khoe o Viet Nam He thong y te Viet Nam - huong toi muc tieu va cong bang
Các đơn vị tổ chức quan tâm có thể ủng hộ tiền cho nhóm hoạt động.

Liên kết website

Hỗ trợ trực tuyến

  Skype Me™!

 

Hotline: 
Email: 

Nhóm hành động vì công bằng sức khỏe

CÁI NHÃN LƯƠNG Y Thứ Năm, 27/03/2014

Đã từ lâu lắm, nhân viên y tế, nhất là các bác sĩ, được gắn một cái nhãn "lương y như từ mẫu"- một cái nhãn theo nghĩa mà ngành xã hội học nói khi nó được "dán" lên người ta thì người ta sẽ cư xử theo mô hình cái nhãn đó quy định. Cái nhãn "từ mẫu" - "như người mẹ hiền" đặt ra những mong đợi từ bệnh nhân với nhân viên y tế và ngược lại từ bác sĩ với bệnh nhân. Hai bên sẽ cư xử theo những cái vai trong một "tấn trò đời" theo kịch bản của một "đạo diễn" nghiêm khắc.

 Cái mác "Lương y như từ mẫu" được gắn cho nhân viên y tế được biết như yêu cầu của một lãnh tụ vào ngày 20/2 năm 1955. Cái nhãn được hệ thống tuyên truyền "dán " thành công lên cộng đồng bác sĩ từ những năm 1950, 1960 và còn mang hiệu ứng tới hiện tại. Ý kiến của người thầy thuốc vẫn là "y lệnh", thông tin về tiến trình trị liệu, kết quả xét nghiệm là bí mật với bệnh nhân. Nhiều khi bệnh nhân không biết ai là bác sĩ điều trị cho mình cho tới ngày nhận phiếu ra viện. 

 

Về phần mình, bệnh nhân cũng yêu cầu sự "yêu thương" và "hy sinh" vô điều kiện của người mẹ, và tự nguyện đóng vai trò thụ động của "người con" khi ở trong môi trường bệnh viện. Họ không đòi hỏi được biết tại sao dùng thuốc này thuốc kia, tại sao phải làm xét nghiệm này nọ. Thậm chí cũng không dám hỏi về các hệ quả của thuốc hoặc phác đồ điều trị. Càng không có chuyện yêu cầu được bác sĩ 

 

Hệ thống vai trò này được hình thành và củng cố cũng như được duy trì có hiệu quả trong cơ chế của nền kinh tế quan liêu bao cấp trước khi nền kinh tế thị trường được đưa vào xã hội Việt Nam trong đó hoạt động của ngành kinh tế cũng bị chuyển đổi sâu sắc theo hướng nên y tế "dịch vụ" hay xã hội hóa hiểu theo nghĩa người bệnh chịu trách nhiệm quan trọng về chi phí khám và điều trị. Có nghiên cứu cho biết, phần gánh vác của người dân đã là 60%. 

 

Từ góc nhìn của một người làm nghiên cứu và giảng dậy, bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn [1] cho rằng cái nhãn này không thể được duy trì trong thời hiện đại khi mà mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân dựa trên tinh thần "đối tác" (tiếng Anh gọi là partnership), theo đó bệnh nhân và bác sĩ cùng đóng vai trò quyết định về phương án điều trị dựa vào chứng cứ tốt nhất. Vai trò “từ mẫu” theo bác sĩ Tuấn là "gián tiếp đặt vị trí của người thầy thuốc trong vai trò của người mẹ, cấp trên, gia trưởng. Người mẹ dù hiền đức vẫn là người có thể ra lệnh cho con, dù thương con vẫn có thể cho roi cho vọt. Người thầy thuốc thời xưa có thể là người ra y lệnh cho bệnh nhân, nhưng ngày nay, trong thế giới y học thực chứng và bình đẳng thì bác sĩ là người ra khuyến nghị".

 

Là một người thực hành, bác sĩ Nguyễn Thị Bích Nguyệt [2] đã chia sẻ một câu chuyện cảm động về trách nhiệm mà chị và gia đình đã phải gồng mình gánh vác theo các quy định nghiêm nhặt của cái nhãn "lương y" mà xã hội đòi hỏi. Những nỗ lực để mang cây "thánh giá" được đổi bằng sự đổ vỡ của gia đình, sự cắn dứt lương tâm khi không thể chăm sóc con nhỏ như mong muốn, sự tủi hổ khi phải làm thêm trái nghề để có thu nhập. Trách nhiệm do cái "nhãn" quy định chỉ bị phá tan khi chị nghỉ hưu sớm và ra làm việc ở khu vực y tế tư nhân. 

 

Thực tế, với sự hình thành của khu vực tư nhân trong lĩnh vực y tế, cái nhãn "từ mẫu" đã hoàn toàn không hoạt động như một công cụ đưa một quan hệ ràng buộc bác sĩ và bệnh nhân. Xã hội đã chuyển sang một "màn kịch" hoàn toàn khác.

 

Không hẳn là quan hệ "tiền trao cháo múc" lạnh lùng, người bệnh bây giờ hiểu rõ giá trị mình phải trả để được hưởng dịch vụ y tế có chất lượng xứng đáng và thái độ phục vụ ân cần. Ngược lại, bác sĩ và các nhân viên y tế khác cũng có trách nhiệm không chỉ cung cấp dịch vụ mà thực hiện đúng vai trò người tư vấn có thẩm quyền và trung thực với bệnh nhân. Trong gần 2 tháng chăm sóc người bệnh ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 (SG), các bà mẹ và người nhà chăm bệnh nhân nhi chuyển từ các bệnh viện tư nhân tới, như Bệnh viện Quốc tế, Việt Pháp, Mỹ Đức v.v. đều khẳng định sự chăm sóc chu đáo, ân cần, chất lượng cao của phòng sinh hoạt của bệnh nhận, mà họ được hưởng nhiều khi với mức chi phí 1.000.000 đ/ngày. Họ cũng nói rõ quyền của họ được chọn bác sĩ khám, mổ. Mức tiền khám khác nhau từ 200 000 đến 500.000 đ/lần theo trình độ chuyên môn của bác sĩ, mà một ngày có thể khám hai lần. Họ cũng biết rõ ai là bác sĩ điều trị cho mình, được cung cấp số điện thoại để được tư vấn 24/24 mà không hề có cảm giác bị coi là người làm phiền. Khi được yêu cầu, có thể là đêm , và không trong ca trực, người bác sĩ điều trị cũng tư vấn và tới tận nơi giúp đỡ bệnh nhân. 

 

Ở rất nhiều bệnh viện công, nhất là các bệnh viện ở tuyến trung ương và cấp tỉnh, việc hình thành khu vực được gọi là "dịch vụ" với chi phí tiền phòng cao tới 500 000 đ/gường /ngày với khả năng yêu cầu bác sĩ điều trị theo nguyện vọng,  và thuốc có chất lượng cao của hãng có uy tín, cũng đã góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch từ hình ảnh nền y tế bao cấp sang nền y tế dịch vụ.

 

Từ phía bệnh nhân, có thể thấy ngày càng nhiều biểu hiện của bệnh nhân không nhìn thấy quan hệ của mình với bác sĩ như người "con ngoan với mẹ hiền". Đại đa số bệnh nhân là người tiêu dùng lịch sự, tôn trọng bên cung cấp dịch vụ. Không ít các bệnh nhân giữ nếp tuân phục như từng cư xử đối với "mẹ hiền." Tuy nhiên, cũng có không ít những báo cáo qua báo chí về những trường hợp khiếu nại thậm chí là những hành động lệch chuẩn kiểu như phản kháng hay bạo hành với nhân viên y tế, thậm chí khiêng "quan tài đòi mạng", với những hiểu biết hạn chế của họ về khả năng của y học. Rõ ràng đã hình thành nhóm người gọi là "khách hàng" hay "người tiêu dùng" dịch vụ y tế thay thế cho khái niệm "con ngoan" trong cặp quan hệ với "từ mẫu". 

 

Có thể lấy một mô hình tương tự (analogue) gần giống như sự hình thành thị trường tình dục dưới ảnh hưởng của những biến đổi xã hội theo thuyết tân tự do (neo-liberalism) trong kinh tế, có thể hình dung sự ra đời và phát triển thị trường dịch vụ y tế với "người tiêu dùng" và bên cung cấp dịch vụ này [3]. Người tiêu dùng sẽ có tự do lựa chọn, tự làm chủ (self-mastery) và tự thích nghi (self-conformity), và tuân thủ xã hội (social obedience) với thẩm quyền chuyên môn của giới y khoa. Có điều tính chất chuyên chế của nhà nước sẽ thể hiện thế nào trong quan hệ giữa bệnh viện (nhân viên y tế) với bệnh nhân trong quá trình chuyển đổi cơ chế này.

 

Quá trình chuyển đổi có vẻ đang tiếp diễn với những "căng thẳng xã hội" từ hai nền y tế bao cấp sang nền y tế dịch vụ có thể đòi hỏi sự rạn nứt đau đớn của cái "mai rùa" bó buộc cũ. Việc nghiên cứu theo dõi liên tục quá trình này xứng đáng là một đề tài nghiên cứu nghiêm túc của ngành xã hội học y học để có thể đưa ra liệu pháp thúc đẩy có hiệu quả nhất và ít đau đớn nhất. 

 

Nguồn tham khảo: 

 

[1] http://bacsinoitru.vn/f41/11159-suy-nghi-ve-aoeluong-y-nhu-tu-maua.html

 

[2] https://www.facebook.com/bichnguyet.nguyenthi.5/posts/716339628418705

 

[3] http://www.washington.edu/uwpress/search/books/NGUIRO.html

 

Nguồn: https://facebook.com/notes/dang-ngoc-quang.

 


Các tin khác

Đối tác

  • rockefeller foundation
  • CHSR
  • VHATTC
  • Logo-CCIHP
  • Logo-ISDS
  • CORDAID